Nghiên cứu chế tạo xi măng siêu mịn bền nhiệt ứng dụng trong công nghệ trám ép nhằm nâng cao hiệu quả khai thác dầu khí
Tóm tắt
Trong ngành công nghiệp dầu khí, trám ép dưới áp suất thường được ứng dụng trong sửa chữa các khuyết tật của lớp trám xi măng, trong đó có loại trừ áp suất giữa cột ống chống và dòng chảy ngoài ống chống. Khả năng xâm nhập của vữa trám ép vào mạng lưới khe nứt, lỗ rỗng (cỡ micro) phụ thuộc rất lớn vào thành phần cỡ hạt chất kết dính được sử dụng. Sử dụng xi măng nghiền siêu mịn thay thế xi măng giếng khoan thông thường cho trám ép là một giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng trám ép.
Nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu chế tạo xi măng siêu mịn (d50 ≤ 6 μm) bền nhiệt (tới 160oC) và không co ngót ở khoảng nhiệt độ từ 50 - 160oC từ các nguyên liệu chính như clinker xi măng Portland, xỉ phosphate, cát thạch anh. Các nguyên liệu đầu vào được phối trộn theo tiêu chí đảm bảo độ bền nhiệt, chống co ngót nhằm chọn được đơn chế tạo tối ưu cho dạng xi măng siêu mịn xỉ - xi măng Portland - silica. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các thành phần xi măng bột đáp ứng yêu cầu về cỡ hạt (d50 ≤ 6 μm; d95 ≤ 16 μm). Vữa và đá xi măng từ hỗn hợp siêu mịn xỉ - xi măng Portland - silica đều nở về thể tích ở cả nhiệt độ thấp (< 76oC) và nhiệt độ cao (từ trên 76 - 160oC) đáp ứng yêu cầu bền sulfate, không co ngót. Độ bền nén đạt tới 1.231 - 1.413 psi ở điều kiện 120 - 160oC, áp suất 210 atm - đáp ứng yêu cầu đối với xi măng trám giếng khoan dầu khí (≥ 500 psi). Nhóm tác giả đã xác định được thành phần phối trộn tối ưu và khả năng thực tế để chế tạo loại xi măng siêu mịn bền nhiệt dùng cho công nghệ trám ép.
Các tài liệu tham khảo
A. Abrams, “Mud design to minimize rock impairment due to particle invasion”, Journal of Petroleum Technology, Volume 29, Issue 5, pp. 586 - 592. DOI: 10.2118/5713-PA.
В.С. Данюшевкий, Проектирование оптимальных составов тампонажных растворов. Недра Москва, 1987.
А.И. Бyлатов и В.С. Данюшевкий, Тампонажные материалы. Недра Москва, 1987.
H.F.W. Taylor, “Height temperature cement”, Cement Chemistry. Thomas Telford, 1997. DOI: 10.1680/ cc.25929.0002.
Ulisses Targino Bezerra, A.E. Martinelli, D.M.A. Melo, M.A.F. Melo, and V.G. Oliveira, “The strength retrogression of special class Portland oilwell cement”, Cerâmica, Volume 57, pp. 150 - 154, 2011. DOI: 10.1590/ S0366-69132011000200004.
Mohamed Al-Bagoury, Philippe Revil, and Atle Kåstad, “Silica dispersion for HT oil well cement”, American Association of Drilling Engineer, 2016.
E. Samari, D.L.T. Scott, and D. Dalrympole: “Water shutoff treatment in Eastern Alberta: Doubling oil production, decreasing water cut by 20%”, SPE/DOE Improved Oil Recovery Symposium, Tulsa, Oklahoma, 19 - 22 April 1998. DOI: 10.2118/39617-MS.
1. Tác giả giao bản quyền bài viết (tác phẩm) cho Tạp chí Dầu khí, bao gồm quyền xuất bản, tái bản, bán và phân phối toàn bộ hoặc một phần tác phẩm trong các ấn bản điện tử và in của Tạp chí Dầu khí.
2. Bằng cách chuyển nhượng bản quyền này cho Tạp chí Dầu khí, việc sao chép, đăng hoặc sử dụng một phần hay toàn bộ tác phẩm nào của Tạp chí Dầu khí trên bất kỳ phương tiện nào phải trích dẫn đầy đủ, phù hợp về hình thức và nội dung như sau: tiêu đề của bài viết, tên tác giả, tên tạp chí, tập, số, năm, chủ sở hữu bản quyền theo quy định, số DOI. Liên kết đến bài viết cuối cùng được công bố trên trang web của Tạp chí Dầu khí được khuyến khích.